Ngày 18/7, 40 năm về trước, nhà vật lý Gordon Moore và Robert Noyce đồng sáng lập hãng sản xuất vi xử lý, lấy tên rút gọn từ “Intergrated Electronics”. Đến ngày nay mọi người dùng máy tính đều biết với cái tên Intel.
|
|
| |
| VIT - Mặc dù những năm qua, ngành mây tre đan nước ta đã trở thành sản phẩm quan trọng trong nhóm lâm sản ngoài gỗ và đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ nhưng, nếu xét về tỉ trọng trong tổng số doanh nghiệp (DN) cả nước thì ngành này còn quá nhỏ bé so với các ngành khác như xây dựng, thương nghiệp… |
|
Theo Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, thời kỳ 1999-2005 giá trị kim ngạch xuất khẩu lâm sản tăng hơn 2,3 lần, trong khi đó sản phẩm mây tre đan tăng gần 4 lần, đưa tổng giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này từ 48,21 triệu USD năm 1999 lên hơn 180 triệu USD năm 2005. Mây tre đan cũng chiếm tỉ lệ lớn và có xu hướng tăng lên trong những năm qua: từ 61,60% năm 1999 lên 97,79% năm 2005. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nếu tính cả giá trị sản phẩm tiêu thụ nội địa thì sản lượng ngành mây tre đan có thể lên tới 250 triệu USD (MPDF, 2005). Kết quả khảo sát tại các tỉnh cũng nổi bật vai trò quan trọng của thủ công mỹ nghệ trong quá trình phát triển ngành nghề phi nông nghiệp thông qua tỉ lệ trong tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp: Hà Tây (cũ) – 47%; vùng Tây Bắc – 17% và Đồng bằng sông Cửu Long – 10%. Hiện tại các sản phẩm mây tre đan của ta đã có mặt tại hơn 90 quốc gia, khu vực và có xu hướng ngày càng mở rộng. Trong đó, các thị trường xuất khẩu chính là Nhật Bản, Đức, Đài Loan, Pháp, Mỹ…
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN và PTNT), số lượng doanh nghiệp (DN) mây tre đan tăng liên tục trong giai đoạn 2000-2005. Năm 2000 cả nước chỉ có 742 DN thì năm 2005 lên tới 1710 DN. Đặc biệt giá trị doanh thu thuần bình quân cũng tăng lên đáng kể từ 6 tỷ đồng năm 2000 lên 7,8 tỷ đồng năm 2005. Đối với giá trị tài sản cố định thì tăng gấp 1,5 lần: 1,9 tỷ đồng năm 2000 lên 3,1 tỷ đồng năm 2005. Số lao động thường xuyên trong các doanh nghiệp này cũng tăng gần gấp 2 lần từ hơn 62 ngàn người năm 2000 lên gần 114 ngàn người năm 2005. Mặc dù thị trường của ngành mây tre đan không ngừng mở rộng là vậy tuy nhiên, ông Phạm Minh Trí (Bộ NN và PTNT) cho rằng: “Nếu xét về tỉ trọng trong tổng số DN cả nước thì ngành mây tre đan còn quá nhỏ bé so với các ngành khác như xây dựng, thương nghiệp: Cụ thể, DN mây tre đan chỉ chiếm chưa đến 2% trong tổng số DN cả nước. Trong khi con số này đối với các DN xây dựng gần 14%; DN thương nghiệp gần 42%, công nghiệp chế biến (trong đó có mây tre đan) chiếm hơn 21%.... Nếu phân theo quy mô lao động, DN mây tre đan chủ yếu có quy mô nhỏ. Hầu như không có DN quy mô 5000 người trở lên. Số DN quy mô trên 300 lao động chỉ ở mức 1-2%. Phổ biến các DN có quy mô dưới 200 lao động, trong đó quy mô dưới 50 lao động chiếm hơn 44%. Con số này là 20,7% đối với DN có quy mô từ 50-199 lao động. Mặt khác, DN nước ta còn quá khiêm tốn về vốn; gần ¾ số DN có số vốn dưới 5 tỉ đồng. Số DN có vốn lớn hơn 50 tỷ đồng chỉ ở mức dưới 5%”.
Theo ông Phạm Minh Trí (Bộ NN và PTNT): “Khó khăn không nhỏ trong quá trình sản xuất kinh doanh của các DN là vốn. Khi các DN có hợp đồng chỉ được ứng 1 phần tiền nhưng họ lại phải ứng với tỷ lệ khá cao cho người sản xuất nên rất khó khăn về vốn lưu động. Đa số lượng vốn vay là vốn ngắn hạn. Mặc dù điều này phù hợp với tình hình hiện nay của qui trình kinh doanh hàng mây tre đan (mang tính hợp đồng gia công theo đơn đặt hàng của khách hàng) nhưng, xét về chiến lược rất khó có thể có những chiến lược sản phẩm hay chiến lược thị trường bền vững. Tỉ lệ DN được vay cũng không phải nhiều, đối với vốn dài hạn, chỉ dưới 5%; rồi vấn đề khan hiếm nguyên liệu. Xấp xỉ 90% nguyên liệu sản xuất các mặt hàng mây tre đan hiện nay ở Hà Tây (cũ) phụ thuộc nguồn cung cấp từ các tỉnh ngoài, chi phí vận chuyển cao, tiêu cực phí vận chuyển lớn làm giá thành nguyên liệu cao. Khả năng tìm hiểu thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm, xúc tiến thương mại của các DN còn non kém. Đa số các DN đều sản xuất theo mẫu mã nước ngoài hoặc nhái lại và gia công cho tập đoàn nước ngoài nên bị ép giá. Mặt khác, việc tham gia các triển lãm và hội chợ trong và ngoài nước của các DN mây tre đan còn bị hạn chế bởi nguồn tài chính yếu”.
Để khắc phục những khó khăn này, ông Trí cho biết thêm: “Chúng ta cần rà soát điều chỉnh lại quy hoạch sử dụng đất. Chỉ làm tốt việc điều chỉnh quy hoạch mới xác định được quỹ đất dành cho phát triển công nghiệp nông thôn nói chung, các làng nghề mây tre đan nói riêng. Từ đó mới xây dựng được kế hoạch sử dụng đất, lên phương án cụ thể giải phóng mặt bằng hỗ trợ các đơn vị có yêu cầu mặt bằng sản xuất. Chính sách tạo mặt bằng cho các cơ sở chế biến mây tre đan cần được công bằng với các khu/cụm công nghiệp. Đồng thời cần tăng cường đào tạo nghề, xây dựng đội ngũ nghệ nhân, hỗ trợ DN xây dựng vùng nguyên liệu. Chính quyền cấp tỉnh, huyện tạo mọi điều kiện, hỗ trợ cần thiết để các DN liên kết, liên doanh xây dựng vùng nguyên liệu (giao đất lâm nghiệp ổn định và lâu dài, tham gia các chương trình/dự án trồng rừng sản xuất…). Bên cạnh đó nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho các DN mây tre đan tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, ngân hàng, hỗ trợ DN phát triển thị trường, liên kết liên doanh tạo sức cạnh tranh”.